Home Forums Diễn đàn đồng hương Việt tại Anh Tâm sự Người Việt và Hoa Kỳ

This topic contains 0 replies, has 1 voice, and was last updated by  Anonymous 3 years, 12 months ago.

Viewing 1 post (of 1 total)
  • Author
    Posts
  • #4526

    Anonymous

    Bao giờ cũng vậy, một sự việc luôn có 2 mặt của nó, như tế ông thất mã. Sau 30/4/1975, nếu nhìn ở mặt tiêu cực thi đây là lần di dân lớn nhất và nhục nhã nhất lịch sử nước Việt, khi người Việt cai trị dân mình, mà dân mình phải bỏ tổ quốc ra đi. Nhưng nếu nhìn ở mặt tích cực, thì đây là lần mà người Việt chứng tỏ với thế giới, dân tộc ta có mặt trên toàn cầu. Trong cuộc chơi đó, có nhiều nỗi vui, và niềm đau. Đó là những bất cập của cuộc đời.

    Sau 1 tuần bươn trải ở 3 thành phố lớn: Los Angeles, San Diego và Las Vegas như con thoi, tôi xin trải lòng với các thế hệ tương lai trong loạt bài ký sự Hoa Kỳ, hòng có cái nhìn thực tế và chuẩn bị hành trang khi các bạn trẻ muốn trở thành công dân toàn cầu, và có một tương lai tốt, dù sống ở bất cứ nơi đâu trên quả đất này.

    Thành công và thất bại

    Tất cả những người tha phương cầu thực, cầu danh vọng ở Hoa Kỳ mà tôi gặp trực tiếp tâm sự, hoặc gián tiếp qua điện thoại đều có một mẫu số chung là: thành công dù ở bất cứ lứa tuổi nào đều hội nhập tốt với đất nước này. Những ai thất bại hay còn long đong đều có một mẫu số chung là khó hoặc không thể hội nhập vì còn mang trong đầu tư duy sĩ diện, cái tôi quá lớn do văn hóa làng xã, tiểu nong gắn chặt trong tâm thức của họ.

    Có những kỹ sư, bác sỹ biết bỏ cái tôi, hoặc học lại từ đầu để làm việc, hoặc học một bằng cấp thấp hơn để làm việc. Tất cả họ đều có gia đình hạnh phúc, công ăn việc làm đảm bảo đời sống tốt và một tương lai tốt đẹp cho thế hệ thứ hai.

    Song những trí thức nửa mùa, vì quá quan trọng quá khứ một thời, họ không chịu từ bỏ vinh quang của quá khứ, họ lặn ngụp với cuộc sống hằng ngày chật vật, dù có sự chở che của dòng họ, gia đình, thì bản thân họ đầy bất trắc, nhưng thế hệ thứ hai của họ cũng đầy vinh quang.

    Dù thành công, hay thất bại thì có một điều chắc chắn với những người Việt Nam ở Hoa Kỳ đều có một kết quả chung là, thế hệ thứ hai đều thành đạt ngoài mong muốn. Có hàng chục đến hàng trăm trẻ ngày nào ở Việt Nam đã từng khó khổ mà tôi biết được, không biết có thể bước vào đại học lớn của Việt Nam hay không, thì bây giờ, các cháu hiển nhiên lấy học bổng toàn phần ở Harvard hay Stanford một cách đàng hoàng, và tương lai một vài năm tới là bác sỹ, dược sỹ rất đỉnh đạt đường hoàng.

    Tôi vô cùng xúc động khi tiếp xúc với một bà mẹ phải đi làm tiếp viên quán phở suốt 10 năm liền, để nuôi 5 đứa con ăn học, và ngày nay chúng đã thành bác sỹ, kỹ sư, mà ước mớ đó, người Mẹ tần tảo này, dù ngày xưa ở Việt Nam chị ta thuộc tầng lớp giàu có, vẫn không mơ được con mình sẽ vào đại học! chị tâm sự với tôi trong nước mắt của sung sướng và hạnh phúc rằng: “Giờ chị chết cũng mãn nguyện Hải ơi!”. Chị em cùng khóc trong hạnh phúc, dù hạnh phúc đó được trả giá bằng khổ cực ở xứ người.

    Tùy hoàn cảnh, tùy tầng lớp lúc ra đi, và tùy tư thế, tâm thế khi đến Hoa Kỳ mà mỗi gia đình có một mức độ thành công khác nhau. Đặc biệt, thế hệ 1.5 ra đi nếu, không còn đường lùi và biết dẹp bỏ quá khứ giàu sang, danh vọng thì hầu hết thành công, có nhà cửa, vợ con đuề huề. Nhưng nếu, không biết dẹp bỏ quá khứ vinh quang thì tổ ấm gia đình hầu như tan vỡ.

    Cái tự do của Hoa Kỳ như cái súng trao cho người phụ nữ Việt, mà ở đó, người phụ nữ Việt như một đứa bé chưa biết dùng súng. Họ bóp cò và vết thương gia đình rỉ máu, khi người đàn ông thế hệ 1.5 không sống với thực tế của cuộc đời, mà mãi ôm quá khứ mộng mơ. Nhưng miền đất mà thì giờ được tính bằng tiền bạc này lại không làm chết đi thế hệ thứ 2, mà tạo ra những thế hệ thành công ngoài sức mong đợi, dù thế hệ 1.5 có tan vỡ. Đó là điều khác biệt tốt đẹp cần ghi nhận.

    Tình người

    Dù ở đâu thì người Việt vẫn vậy. Đây là ghi nhận thấm thía mà tôi đã trải qua trong một tuần ở Hoa Kỳ. Nó làm đọng lại trong tôi những niềm yêu thương quý trọng và nỗi đau của văn hóa duy tình, mà người Việt chưa xóa bỏ được.

    Có những người tiếng tăm lừng lẫy trong quá khứ cũng như hiện tại, họ có những lời hứa tốt đẹp, nhưng có cánh và biến mất khi tôi đến Hoa Kỳ, chỉ vì tiếng tăm đó không có thực khi họ đang ở Hoa Kỳ. Họ làm tôi buồn cho thân phận nhược tiểu với cái văn hóa duy tình!

    Nhưng ngoài sự chăm lo hết mình của người trong gia đình, còn có những người bạn thầm lặng. Họ không tiếng tăm, họ đến Hoa Kỳ bằng đôi bàn tay trắng. Họ cật lực mưu sinh và họ trụ được ở Hoa Kỳ bằng sức của mình. Họ sống rất tình người ấm áp yêu thương và đùm bọc. Những con người này đã giúp tôi đến nỗi, tôi có một thời khóa biểu lấp đầy trong chỉ 7 ngày cưỡi ngựa xem hoa, nhưng ghi nhận được bản chất của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ. Những Henry Cao ngày nào là sinh viên y khoa bỏ dở ra đi, những Gavin Nguyễn đến đất Mỹ chật vật mưu sinh, những Khiêm Nguyễn cũng tần tảo để hôm nay, tất cả họ có gia đình, nhà cửa đàng hoàng bằng tiềm lực vô biên của chính mình, quả thật đáng yêu và đáng tự hào. Tôi kính trọng và yêu các bạn suốt cuộc đời này, vì các bạn đã làm tôi ấm lòng đến bất ngờ!

    Kết

    Dù thành công hay thất bại ở thế hệ 1.5, thì thế hệ 2.0 của người Việt đều thành công. Đó là điều đọng lại cho mỗi chúng ta cần suy nghĩ.

    Muốn thành công ở Hoa Kỳ dù bất kỳ ai, già, trẻ, trai, gái đều phải vứt bỏ cái văn hóa duy tình, hội nhập với cuộc sống. Không thể ôm quá khứ oai hùng để tính chuyện đội đá vá trời.

    Đến thăm UCLA – University of California, Los Angeles – đứng bên bức tường ghi tên những đóng góp cho trường của các thế hệ đã từng học ở đây, tôi mới nhận ra sự thành công của một thể chế xã hội như thế nào? Có 4 mức độ đánh giá sự thành công của một thể chế xã hội.

    Ở mức thấp nhất, thì thể chế chỉ có thể ổn định chính trị, mà không lo được dân có cơm ăn, áo mặc. Ở mức trung bình, thể chế chính trị vừa lo được ổn định chính trị và lo cho dân có cơm ăn, áo mặc. Ở mức độ khá, thể chế chính trị lo được ổn định chính trị và người dân không còn lo chuyện cơm ăn, áo mặc, mà còn tính chuyện tiêu khiển ở cuộc đời đầy bất trắc. Hoa Kỳ là quốc gia đã đưa được người dân ở mức cao nhất, chẳng những ổn định chính trị mà còn cho người dân ngoài việc tiêu khiển, ăn chơi, còn làm được việc lớn cho cộng đồng.

    Cho nên Hoa Kỳ mới có những Bill Gates, Steve Jobs, v.v… sau khi làm giàu, quay lại giúp trường đại học, giúp thế giới cùng khổ ở Phi Châu. Không chỉ một Bill Gates, mà Hoa Kỳ còn có nhiều những con người như Bill Gates, ít nhiều, và họ đã làm nên những đại học đứng đầu toàn cầu cũng từ sự thành công của thể chế xã hội mà họ đã tạo ra.

    Biết đến khi nào đất nước Việt có được những thế hệ biết chăm lo cho cộng đồng bằng một tâm thế và nhân cách đáng kính trọng, là một câu hỏi lớn, mà mỗi chúng ta phải suy nghĩ. Vì chỉ có thế thì nước Việt mới hùng cường.

    GNA: Trước đó vào năm 2011, dựa trên thống kê chính thức của chánh phủ Hoa Kỳ, T/S Nguyễn Đình Thắng ghi nhận các con số sau đây:

    Cuộc sống thực của người Việt ở Hoa Kỳ

    Tác giả: TS Nguyễn Đình Thắng

    Theo Người Đưa Tin 30/6/2011

    Nhiều người Việt tò mò muốn tìm hiểu về cuộc sống thực của những Việt kiều tại Hoa Kỳ như thế nào.

    Theo kết quả kiểm tra dân số năm 2010 vừa được công bố, dân số người Việt đã tăng 38% (thêm 425,921 người) trong thập niên đầu của thế kỷ 21. Số người Việt hiện ở Hoa Kỳ là 1,548,449, so với 1,122,528 năm 2000, 614,547 năm 1990, và 261,729 năm 1980. Vào thời điểm của cuộc kiểm tra dân số năm 1970 thì chưa có cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

    Trong 10 năm qua, dân số người Việt ở mọi tiểu bang đều gia tăng, ngoại trừ thủ đô Washington thì giảm sút 18%. Vì đời sống mắc mỏ, nhiều người Việt đã phải di dời sang tiểu bang Virginia và Maryland.
    Năm 2010, gần ¾ dân số Việt tập trung trong 10 tiểu bang, nhiều nhất là California (37.58%), Texas (13.62%), Washington (4.30%) và ít nhất là Louisiana (1.83%).
    Khu vực đông dân Việt Nam nhất vẫn là vùng Los Angeles – Long Beach – Santa Ana (271,234 người). Đông thứ hai là vùng San Jose – Sunnyvale – Santa Clara (125,774).
    Thành phố đông dân Việt nhất là San Jose (100,486). Kế đến là Garden Grove (47,331). Tiếp theo là Westminster (36,058), Houston (34, 838) và San Diego (33,149).
    Tuy nhiên, nói về tỉ lệ người Việt so với tổng số dân thì thị trấn Midway, CA đứng đầu (41.4%); tiếp theo là Westminster, CA (40.2%); Garden Grove, CA (27.7%); Fountain Valley, CA (20.7%); Morrow City, GA (20.3%).
    Tuỳ theo lăng kính nhìn, những con số trên đây có thể gợi nhiều câu hỏi để chúng ta suy tư. Chẳng hạn, liệu các tổ chức cộng đồng ở mỗi địa phương có phát triển dịch vụ xã hội để đáp ứng nhu cầu của sự gia tăng dân số quá nhanh? Liệu nền kinh tế cộng đồng có phát triển lành mạnh đủ để gánh vác số nhân khẩu gia tăng trong khu vực? Và nhiều nữa.
    Tôi cũng đã nghe có người nhận định rằng cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ không có vấn đề gì phải quan tâm vì phần lớn người Việt đều đỗ đạt, thành công. Tuy nhiên, cuộc thăm dò năm 2009 của Sở Thống kê dân số cho hay, người Việt 25 tuổi trở lên: 30.4% chưa hoàn tất trung học (so với 14.7% cho người Mỹ nói chung) và chỉ có 6.6% là học trên đại học (so với 10.3% cho người Mỹ nói chung). Đa số các cộng đồng Á Châu khác vượt xa chúng ta về học lực.
    Người Việt trên 65 tuổi: 40.4% bị khiếm dụng (disability) so với 37.4% cho người Mỹ nói chung.
    Người Việt không sinh ở Hoa Kỳ: 50% chưa có quốc tịch.

    Người Việt trên 5 tuổi: 55% gặp trở ngại về Anh ngữ. Nếu chỉ tính những người lớn thì tỉ lệ bị trở ngại ngôn ngữ tăng cao hơn nhiều.
    Gia đình người Việt: 19.6% không có bảo hiểm sức khoẻ so với 15.1% cho người Mỹ nói chúng; 13.7% nằm trong diện nghèo khó so với 10.5% cho người Mỹ nói chung.
    Thiếu dữ kiện về chính mình thì khó tránh được sự ngộ nhận. Và khi không biết thì cũng chẳng quan tâm. Thiếu sự quan tâm thì không có hành động để đối phó. Đó là tình trạng đáng lo của cộng đồng Việt sau 36 năm ở Hoa Kỳ.
    Bác sỹ Nguyễn Ý Đức: “Chúng ta đã có những đại diện dân cử cấp liên bang cũng như tiểu bang, thành phố. Đã có người giữ chức vụ cao trong hành pháp Hoa Kỳ, những vị chánh án liên bang. Con số các khoa học gia, khoa bảng bác sĩ kỹ sư nổi danh cũng không phải là ít. Đã có người phát minh ra khí giới có thể truy tìm địch thủ dễ dàng thì cũng có những phẫu thuật gia nổi danh ghép cơ quan nội tạng, cứu nhân độ thế, những khoa học gia không gian vũ trụ, những nhà toán học trẻ tuổi Việt Nam. Bằng sáng chế khoa học của người Mỹ gốc Việt có thể nói là nhiều vô kể. Sự thành công của thế hệ này đã tạo ra nhiều ngạc nhiên cho con dân bản xứ”.

Viewing 1 post (of 1 total)

You must be logged in to reply to this topic.